một sự vật ngoại trừ một sự tồn tại [thực], tính thực tại bị thiếu này cũng không
thêm vào, khi tôi nói một sự vật còn khiếm khuyết như thế tồn tại; trái lại, sự vật
ấy vẫn cứ tồn tại với sự thiếu thốn ấy như khi tôi suy tưởng về nó, bởi vì nếu
không, sẽ là một cái khác tồn tại chứ không phải sự vật tôi đã suy tưởng. Cho
nên, dù tôi suy tưởng một hữu thể như là Thực tại tối cao (không thiếu thốn gì),
câu hỏi còn lại vẫn luôn luôn là: liệu nó có tồn tại [thực] hay là không.
KANT, Phê phán lý tính thuần tuý, Các suy luận Biện chứng, Ch.III.
1. Khái niệm là luôn luôn có thể có được, nếu nó không tự mâu thuẫn. Đó là đặc
điểm lôgích của khả thể, và qua đó đối tượng của nó được phân biệt với cái nihil
negativum [đối tượng rỗng không có khái niệm. Xem lại B348]. Chỉ có điều nó
vẫn có thể là một khái niệm rỗng, nếu tính thực tại khách quan của sự tổng hợp -
qua đó khái niệm được tạo ra - không được chứng minh một cách đặt thù; thế
nhưng điều này, như đã chỉ ra trước đây - phải dựa trên các nguyên tắc của kinh
nghiệm khả hữu, chứ không phải trên nguyên tắc của việc phân tích (Analysis)
(theo nguyên tắc mâu thuẫn). Đó là một sự cảnh báo để dừng từ khả thể của
những khái niệm (khả thể lôgích) lập tức suy luận ra khả thể của những sự vật
(khả thể hiện thực).
2. Hệ từ: (die Copula): loại động từ nối kết chủ ngữ và vị ngữ, ở đây là động từ
"là".
3. Taler: tên gọi một đơn vị tiền tệ thời Kant. Hiểu chung là "đồng tiền".
Ích lợi của Phê phán: hướng về một nền siêu hình học thoát thai từ lý tính thực
tiễn.
Người ta đã ngộ nhận trầm trọng về bộ Phê phán lý tính thuần tuý, khi coi nó là
một tác phẩm hoài nghi, hư vô chủ nghĩa, nhằm phá hoại niềm tin từ nền tảng.
Trái lại, việc hạn chế tri thức tư biện vào những đối tượng của kinh nghiệm khả
hữu đã làm công việc dẹp bỏ chướng ngại mà cái gọi là khả tính về một tri thức
sẽ thâm nhập vào hữu thể tự thân của sự vật - đe doạ đè nặng lên việc sử dụng lý
tính thực tiễn (đạo đức). Chỉ có siêu hình học của các trường phái là bị thương
tổn bởi sự hạn chế này.