[nhận thức một cái gì không ở trong thời gian] là điều vô lý, không thể có được),
tôi vẫn hoàn toàn có thể suy tưởng về tự do, theo nghĩa biểu tượng của tôi về tự
do ít ra không chứa đựng mâu thuẫn nào, nếu có được sự phân biệt có tính phê
phán về hai phương cách biểu tượng khác nhau (phương cách biểu tượng cảm
tính và phương cách biểu tượng trí tuệ) cũng như từ đó có được sự giới hạn
(Einschrnkung) của các khái niệm thuần tuý của giác tính cũng như của các
nguyên tắc rút ra từ các khái niệm thuần tuý ấy. [Xem "Phân tích pháp siêu
nghiệm": Phân tích pháp các khái niệm và Phân tích pháp các nguyên tắc. B91 -
B349]. Bây giờ giả thiết rằng, đạo đức tất yếu phải lấy Tự do (theo nghĩa chặt chẽ
nhất) như là đặc tính của ý chí chúng ta làm tiền đề, và khi Đạo đức đề ra một
cách tiên nghiệm các Nguyên tắc thực hành có nguồn gốc nguyên thuỷ trong lý
tính chúng ta như là các dữ liệu (Data) của lý tính [thực hành] vốn cũng không
thể có được nếu không có tiền đề này [Tự do]; trong khi đó lý tính tư biện đã
chứng minh rằng Tự do là không thể suy tưởng được [vì lý tính sẽ rơi vào tự mâu
thuẫn] thế thì tiền đề này [Tự do], tức tiền đề đạo đức phải tất yếu nhường chỗ
cho tiền đề khác, vì ngược lại là sẽ chứa đựng mâu thuẫn rõ ràng, do đó Tự do, và
cùng với nó là đạo đức cũng phải nhường chỗ cho cơ chế [tất định] của Tự nhiên
(vì lẽ cái trái ngược lại [tức sự phủ định của lý tính tư biện] đối với Tự do và Đạo
đức không chứa đựng mâu thuẫn nào cả, trừ khi chịu lấy Tự do làm tiền đề). Thế
nhưng, vì lẽ để có được Đạo đức, tôi không cần điều gì khác hơn là Tự do không
tự mâu thuẫn với chính nó, nghĩa là ít nhất Tự do cũng có thể chỉ được suy tưởng
chứ không cần phải nhận thức thêm gì về nó cả, khiến cho trong cùng một hành
vi (nếu được nhìn từ mối quan hệ khác), Tự do không phải là một cản trở đối với
cơ chế của Tự nhiên, thế là học thuyết về đạo đức có chỗ đứng riêng và học
thuyết về tự nhiên cũng có vị trí riêng của nó; điều ắt đã không thực hiện được
nếu không nhờ có sự Phê phán trước đó dạy cho ta biết về sự bất tri không thể
tránh được của ta đối với những vật tự thân, và rằng tất cả những gì ta có thể nhận
thức được về mặt lý thuyết chỉ giới hạn trong những hiện tượng đơn thuần mà
thôi. Sự khảo sát như trên về ích lợi tích cực của các Nguyên tắc phê phán của lý
tính thuần tuý cũng thể hiện rõ đối với các khái niệm về Thượng đế và về bản
tính đơn thuần (2) của linh hồn chúng ta, nhưng để ngắn gọn, tôi xin lướt qua.
Như vậy, để bảo vệ việc sử dụng lý tính của tôi một cách tất yếu về mặt thực
hành, tôi thậm chí không thể giả định về sự tồn tại của Thượng đế, Tự do và sự
Bất Tử [của linh hồn], nếu tôi không đồng thời tước bỏ tham vọng nhận thức