ĐIỂM MÙ - Trang 33

[20]

Boisjoly 2006.

[21]

Boisjoly 2006.

[22]

Boisjoly 2006.

[23]

Irving Janis (1972), Victims of Groupthink: A Psychological

Study of Foreign-Policy Decisions and Fiascoes (Tạm dịch: “Nạn nhân của
suy nghĩ tập thể: Tâm lý học trong nghiên cứu quyết định và thất bại của
Chính sách nước ngoài”).

[24]

Có những trường hợp chắc chắn những luật lệ về đạo đức sẽ dẫn

tới những quyết định tốt. Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ tập trung vào những
bất lợi tiềm tàng trong các luật lệ này.

[25]

M. H. Bazerman, J. Baron, và K. Shonk (2001), You Can’t

Enlarge the Pie: Six Barriers to Effective Government (Tạm dịch: “Bạn
không thể làm chiếc bánh quyền lợi nở ra: Sáu rào chắn cho một Chính phủ
có hiệu quả”).

[26]

M. Janofsky (19/3/2004), “Scalia Refusing to Take Himself Off

Cheney Case” (Tạm dịch: Scalia từ chối rút khỏi vụ Cheney).

[27]

M. R. Banaji (2004), “The Opposite of a Great Truth Is Also

True: Hom- age of Koan #7” in Perspectivism in Social Psychology(Tạm
dịch: Mặt đối lập của Sự thật tuyệt đối cũng đúng: “Lòng tôn kính của
Koan #7” trong đánh giá Tâm lý xã hội: Hai mặt âm dương của khoa học).

[28]

A. S. Grove (2002), Hồi ký – “Swimming Across”.

[29]

A. L. McGill (1989), “Context Effects in Judgments of

Causation” (Tạm dịch: “Nội dung sự ảnh hưởng trong phán xét nguyên
nhân”).