Họ chẳng những không mạt sát Lão như Hàn Dũ mạt sát Phật, mà còn thích
Lão, trọng Lão cũng ngang với Khổng nữa. Một số thi hào, văn hào của
Khổng chịu ảnh hưởng lớn của Lão như Đào Uyên Minh đời Lục Triều, tác
giả những bài Đào hoa nguyên kí, Qui khứ lai từ; Liễu Tôn Nguyên đời
Đường, tác giả bài Ngu Khê thi tự, bạn thân của Hàn Dũ mà phóng khoáng
hơn Hàn; Lí Bạch với Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, nhất là Hàn Sơn đời
Đường, nhà nào cũng lưu lại nhiều bài bất hủ tả cảnh thiên nhiên; Tô Đông
Pha đời Tống với hai bài phú Xích Bích mà bài Hậu Xích Bích có giọng
phiêu diêu của một đạo sĩ…
Môn hoạ của Trung Hoa còn chịu ảnh hưởng của Lão nhiều hơn môn thơ
nữa: có thể nói tất cả các bức tranh sơn thuỷ, tùng bách, suối mây, cúc, trúc,
mai, hạc… đều nhờ Lão mà có, mà những hoạ sĩ như Vương Duy đời
Đường, Mễ Phế đời Tống đều là những nhà Nho kiêm Lão.
Dân chúng Trung Hoa cũng thích Lão mặc dù xử thế thì coi Khổng là chính.
Họ cũng như các sĩ phu, còn trẻ thì theo “hữu vi” của Khổng, mà về già thì
muốn theo “vô vi” của Lão; gặp thời bình trị thì tận tâm giúp nước, nhưng
khi loạn quá rồi, không cứu vãn được nữa thì rút lui, giữ tiết tháo mà đợi một
thời thuận tiện hơn.
Tóm lại cả dân tộc Trung Hoa từ quan tới dân, từ các học giả, nghệ sĩ tới
nông phu đều do bản năng cảm thấy rằng Khổng và Lão không phải trái
ngược nhau hẳn mà bổ túc lẫn nhau: Khổng hướng dẫn họ trong việc tề gia,
trị quốc, trong việc làm ăn, cần thiết cho họ cũng như mặt trời cần thiết cho
sự sinh trưởng của vạn vật; Lão nén bớt chí hăm hở thành công, dạy họ tiết
dục, tri túc, khoan nhu, như mặt trăng làm dịu tâm hồn của họ xuống, khiến
cho cái tâm của họ tĩnh hơn, mát hơn, sáng hơn như cảnh vật dưới ánh trăng.
Lâm Ngữ Đường trong cuốn The Importance of Living
mà dân tộc Trung Hoa mới tồn tại được trong ba bốn ngàn năm vật lộn với
đời sống, mà không có nhiều người bị bệnh điên, bệnh thần kinh suy nhược,